08:54 | 27/02/2017

Phát biểu của Hòa thượng Chủ tịch tại lễ ra mắt Viện Trần Nhân Tông

(Chutichghpgvn.vn) Sáng ngày 22/2/2017, tại Hội trường Nguyễn Văn Đạo, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) đã trang trọng tổ chức Lễ ra mắt Viện Trần Nhân Tông và công bố các Quyết định bổ nhiệm Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Trần Nhân Tông. Hoà thượng Thích Thiện Nhơn, Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam dự và có bài phát biểu quan trọng. BBT trân trọng giới thiệu toàn văn Bài Phát biểu của Hòa thượng Chủ tịch.


Kính thưa.…..
Kính thưa……

Hôm nay, trong những ngày còn hương vị của mùa xuân năm Đinh Dậu (2017), Tôi rất hoan hỷ được đến tham dự lễ ra mắt Viện Trần Nhân Tông thuộc Trường Đại học Quốc gia Hà Nội do Chính phủ cho phép thành lập. Trước tiên thay mặt Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tôi xin gửi đến Quí vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quý vị lãnh đạo Bộ Giáo dục, Ban Giám đốc Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội đồng Điều hành Viện Trần Nhân Tông, cũng như Ban tổ chức, cùng toàn thể quý vị đại biểu lời chúc sức khỏe, an lạc trên tinh thần Cư trần lạc đạo của Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Kính chúc lễ ra mắt Viện Trần Nhân Tông thuộc Trường Đại Học Quốc gia Hà Nội thành công tốt đẹp.

Kính thưa chư liệt vị!

Phật giáo đã sớm có mặt trên đất nước ta vào những thế kỷ đầu sau công nguyên, sự hiện diện của 500 vị Tăng cùng với 20 ngôi Chùa và 15 bộ kinh Phật tại trung tâm Phật giáo Luy Lâu, đã nói lên chiều dài lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo Việt Nam[1]. Trải qua hàng ngàn năm sau đó, trên tinh thần gắn bó đồng hành sắc son với dân tộc, Phật giáo không ngừng phát triển, nhất là khi thiền phái Trúc Lâm và Giáo hội Trúc Lâm ra đời dưới sự lãnh đạo của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, thì Phật giáo Trúc Lâm mới thực sự khẳng định vị thế vững vàng trong lòng dân tộc, và cũng từ cột mốc thời gian này, đạo Phật tại nước ta thực sự trở thành một đạo Phật đúng nghĩa của người Việt. Mang tính hội sinh.

Sự hình thành Phật giáo Trúc Lâm là Khởi nguồn của sự hợp nhất ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường tại nước ta để hình thành nên Thiền phái Yên Tử, vốn là tiền thân của Thiền phái Trúc Lâm.

Sau khi Thiền phái Trúc Lâm ra đời, Phật Hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308) đã thành lập Giáo Hội Phật giáo Trúc Lâm[2], sự kiện này đánh dấu thời kỳ mở đầu của tổ chức Giáo hội Phật giáo tại Việt Nam.  Có thể nói, nếu như triều đại phong kiến trước và sau thời nhà Trần đều lấy tinh thần Nho giáo làm nền tảng cho tư tưởng của dân tộc thì chính nhà Trần đã tạo nên một sự khác biệt rõ nét khi kết hợp tuyệt vời giữa các tư tưởng trong cộng đồng, hòa hợp các dòng tư tưởng ấy thành một khối thống nhất được đặt dưới ánh sáng bi mẫn, thông tuệ của tư tưởng Phật giáo đời Trần. Chính nhờ sự khác biệt này mà trải qua gần 200 năm (1225-1400) điều hành và trị vì đất nước, Nhà Trần đã phát huy cao độ tinh thần độc lập chủ quyền dân tộc, đặt nền móng quan trọng cho sự phát triển về mọi mặt của đất nước, từ xây dựng củng cố chính quyền, văn hóa, giáo dục, chăm lo phát triển vật chất và tinh thần để người dân được sống trong nền thịnh trị thái bình của đất nước Đại Việt.

Về tư tưởng Phật học của Thiền phái Trúc Lâm đã hội tụ và dung hợp được nguồn minh triết của ba thiền phái vốn du nhập từ Ấn Độ và Trung Hoa[3]. Từ sự hội tụ tinh hoa đó đã tỏa ra bốn luồng tư tưởng đốn siêu phương tiện, cao vút thâm sâu nhưng lại rất thiết thực gần gủi với đời sống hằng ngày của người dân Việt, đó chính là tư tưởng “Thiền tùy tục” của thiền sư Thường Chiếu; “Biện tâm” của Trần Thái Tông; “Hòa quang đồng trần” của Tuệ Trung Thượng sĩ và “Cư trần lạc đạo” của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, nhất là tính nhân bản lấy tâm làm bản thể, Tâm là Phật Phật là tâm của mỗi người.

Về mặt Đạo pháp, lịch sử đã ghi nhận vua Trần Nhân Tông là một bậc quân vương nhân từ, một nhà chính trị lỗi lạc, nhưng đồng thời cũng ghi nhận Ngài là một Thiền sư chứng ngộ, một nhà lãnh đạo tài ba và uy tín của Phật giáo trong suốt một ngàn năm qua. Sau khi hoàn thành trọng trách đối với dân tộc trên cương vị của một bậc quân vương, thì suốt cuộc đời làm Tăng của vua Trần Nhân Tông là một chuỗi ngày hoạt động tích cực và hiệu quả cho công cuộc hoằng hóa độ sanh trên tinh thần giữ năm giới và mười điều thiện làm căn bản và cho sự phát triển của Phật giáo Trúc Lâm hội tụ và lan tỏa khắp nơi.

Về mặt dân tộc, lịch sử cho thấy tinh thần nhập thế của Phật hoàng Trần Nhân Tông đã tạo thành sự hội tụ nhân tâm và phát huy sức mạnh tổng hợp cho Phật giáo nước nhà và toàn dân tộc thời bấy giờ. Các vua Trần đã thừa nhận vai trò ổn định trật tự xã hội của đạo Phật thông qua việc giáo dục nhân cách đạo đức con người, ứng dụng giáo lý nhà Phật làm kim chỉ nam trong việc giáo dục phẩm chất cho vương công quan lại và khơi nguồn đạo đức trong đời sống nhân dân, để từ đó, từ vua quan đến thần dân đều thấm nhuần đời sống đạo đức, tin sâu nghiệp báo nhân quả, tỏ rõ lý vô thường, đồng thời ứng dụng tư tưởng Phật học của thiền phái Trúc Lâm một cách sinh động vào đời sống thực tiễn, dựa vào sức mạnh đoàn kết của toàn dân, các triều đại nhà Trần đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà lịch sử giao phó, đó là đánh bại tập đoàn quân xâm lược Nguyên Mông vốn được xem là đoàn quân bất khả chiến bại trên khắp chiến trường Trung Á, củng cố và xây dựng đất nước ngày càng hùng cường giàu mạnh, góp phần gìn giữ vững chắc độc lập chủ quyền đất nước, mở ra những trang sử vàng trong sự nghiệp phát triển nước nhà.

Vào thời đại nhà Trần, nói đến Phật giáo Trúc Lâm là nói đến dân tộc, nói đến dân tộc là nói đến Phật giáo Trúc Lâm. Từ đó chúng ta có thể khẳng định rằng, Phật giáo Trúc Lâm là nền Phật giáo độc lập, phục vụ cho dân tộc Việt, duy trì và phát huy nội lực của dân tộc Việt, đây là điểm sáng lung linh làm nổi bật lên vai trò đồng hành, gắn kết của Phật giáo với dân tộc dưới thời nhà Trần và việc phát triển đất nước Đại Việt và vẫn còn liên tục đến thời đại tư tưởng Hồ Chí Minh của chúng ta ngày nay.

Vai trò của Giáo hội Phật giáo Trúc Lâm nói riêng và Phật giáo nói chung là pháthuy tối đa tinh thần nhập thế của đạo Phật, mà tấm gương sáng ngời của Phật Hoàng Trần Nhân Tông là một minh chứng vô cùng sống động, tuy nhiên muốn nâng cao hiệu quả tinh thần nhập thế trong bối cảnh toàn cầu hóa với nhiều biến động tiêu cực, đồng thời xã hội đang đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức như hiện nay, thì bản thân mỗi người chúng ta phải thật sự là một hành giả nghiêm túc trong việc thừa hành giáo pháp của Ngài, phải nỗ lực tu dưỡng rèn luyện để đạt được trí tuệ giải thoát và đức hạnh vô ngã, có như vậy thì mới không dính mắc vào vòng lợi danh trong quá trình đồng hành cống hiến cho dân tộc như các vua Trần và chư tôn đức trong hệ thống Phật giáo Trúc Lâm đã nêu gương.

Ngày nay, theo phương châm hoạt động – Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa Xã hội; trong mối quan hệ giữa Giáo Hội Phật giáo Việt Nam và Viện Trần Nhân Tông thuộc Đại Học Quốc gia Hà Nội đây là mối quan hệ hữu cơ với các Học Viện Phật Giáo Việt Nam của Giáo Hội. Thông qua đó, Giáo Hội có thể giới thiệu nhân sự tham gia Ban lãnh đạo của Viện, giáo sư Phật học, Thiền Học cho Viện. Cung ứng đầu vào cho Viện khi có chiêu sinh nghiên cứu sinh Tiến sĩ Cấp Tiến sĩ Phật học. Vì hiện nay Giáo Hội có hơn 100 Tăng Ni có trình độ học vị Cao học muốn theo học CấpTiến sĩ Phật họchay nghiên cứu sinh Tiến sĩ Phật họctrong nước. Thông qua chương trình đào tạo của Viện, Giáo Hội Phật giáo Việt Nam sẽ có cơ hội giới thiệu Tăng Ni theo học Cấp Tiến sĩ Phật học, nghiên cứu sinh Tiến sĩ Phật Họctrong nước không phải ra nước ngoài đỡ đi phần chi phí đáng kể trong chương trình giáo dục Phật học của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tiến xa hơn trong tương lai các Học viện Phật giáo Việt Nam của Giáo hội sẽ liên thông Phân khoa Phật Học với Viện Trần Nhân Tông. Trước mắt nối kết với Học Viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, sau đó là Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Cần Thơ, các Thiền viện Trúc Lâm trong cả nước. Do đó, sự ra đời Viện Trần Nhân Tông thuộc Đại Học Quốc gia Hà Nội, Giáo Hội vô cùng hoan hỷ và sẽ tích cực hợp tác lâu dài trong lĩnh vực phát huy tư tưởng Trần Nhân Tông, giáo dục Phật học, nghiên cứu bảo tồn di sản văn hóa Phật giáo Trúc Lâm cũng như Phật giáo Việt Nam của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam.

Nhân lễ ra mắt Viện Trần Nhân Tông thuộc Đại Học Quốc gia Hà Nội do Chính phủ thành lập, GHPGVN vô cùng hoan hỷ, có thể nói rằng đây chính là sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và Chính phủ mới có kết quả như ngày hôm nay. Thành lập Viện Trần Nhân Tông trong thời điểm hiện nay, GHPGVN cho là việc rất cần thiết, kịp thời phù hợp với trào lưu tiến hóa của tư tưởng nhân loại qua sự tiếp cận tư tưởng Trần Nhân Tông, đồng thời vừa để tôn vinh tinh thần giá trị nhân văn của bậc Anh minh lỗi lạc,tu hành đạt đạo, vừa để nhắc nhỡ và là bài học cho thế hệ mai sau kế thừa và phát huy tư tưởng, bảo tồn di sản văn hóa của Phật HoàngTrần Nhân Tông trong nước cũng như giới thiệu đến các nước trên thế giới.

Với tất cả ý nghĩa này, một lần nữa Tôi xin thay mặt GHPGVN tán thán và chia sẽ niềm hân hoan và cầu nguyện cho Viện Trần Nhân Tông luôn phát triển tốt đẹp đúng theo định hướng và con đường mà Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã dày công tạo dựng và lưu lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Kính chúc buổi lễ thành công tốt đẹp.

Xin chân thành cảm ơn Quý liệt vị!

[1] Việt Nam Phật Giáo Sư Luận của Nguyễn Lang, Nxb Văn Học, năm 1992
[2] Năm 1299, vua Trần Nhân Tông đến chùa Hoa Yên núi Yên Tử (Quảng Ninh) xuất gia tu hành và thành lập thiền phái Trúc Lâm (còn gọi là Trúc Lâm Yên Tử hay Trúc Lâm Tam Tổ
[3]Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nguyễn Lang, Nxb Văn Học, năm 1992.
 
Ý kiến bạn đọc: (0)

    Ý kiến của bạn sẽ được hiển thị sau khi duyệt