
Sáng 17-4 (nhằm mùng 1-3 năm Bính Ngọ), Trung ương Giáo hội đã long trọng, trang nghiêm cử hành Lễ tưởng niệm 42 năm ngày viên tịch của Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ – Đệ nhất Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN.
Buổi lễ là dịp thành kính tưởng niệm và tri ân công đức to lớn của Ngài – bậc lãnh đạo kiệt xuất đã góp phần quan trọng trong công cuộc thống nhất Phật giáo Việt Nam, đồng thời đặt nền tảng vững chắc cho sự hình thành và phát triển bền vững của Giáo hội trong hiện tại và tương lai.



Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ, thế danh Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, hiệu Thích Trí Thủ, sinh ngày 1-11-1909 (19-9 năm Kỷ Dậu) trong một gia đình thâm tín Phật pháp tại làng Trung Kiên, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Dòng tộc của Ngài có truyền thống tu học và hành đạo lâu đời, nối đời hộ trì Tam bảo, với nhiều vị cao tăng khai sơn và trùng hưng các danh lam cổ tự tại miền Trung Việt Nam.

Từ thuở ấu thơ, Ngài đã sớm bộc lộ căn duyên Phật pháp, tinh thông Hán học và kinh điển. Năm 14 tuổi, Ngài xuất gia tại chùa Hải Đức (Huế), sau đó được Thiền sư Viên Thành thu nhận làm đệ tử, ban pháp danh Tâm Như, pháp tự Đạo Giám. Năm 20 tuổi, Ngài thọ Cụ túc giới tại giới đàn chùa Từ Vân (Đà Nẵng), đỗ Thủ Sa-di và được ban pháp hiệu Thích Trí Thủ.

Dấn thân vào con đường hoằng pháp và giáo dục, Ngài đã tham học tại nhiều Phật học đường danh tiếng, từng giảng dạy tại các trường Phật học Phổ Thiên, Tây Thiên, Báo Quốc, và đặc biệt là sáng lập Ni trường đầu tiên tại chùa Từ Đàm vào năm 1939. Với tinh thần nhập thế, Hòa thượng đã tích cực mở mang giáo dục Phật giáo, chủ trương giảng dạy song hành nội điển và thế học, đặt nền móng cho hệ thống trường Bồ Đề sau này.

Không chỉ là một bậc tôn túc uyên thâm Phật học, Hòa thượng còn đóng vai trò quan trọng trong các phong trào chấn hưng và thống nhất Phật giáo. Từ những năm 1940, Ngài đã tham gia các hoạt động xã hội, đấu tranh bảo vệ đạo pháp và dân tộc, được bầu làm Đại biểu Hội đồng nhân dân Thừa Thiên trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám. Năm 1951, Ngài giữ chức Hội trưởng Hội Phật học Trung phần, góp phần vào sự hình thành Tổng hội Phật giáo Việt Nam.
Năm 1963, trong phong trào đấu tranh chống đàn áp Phật giáo, Hòa thượng đã cùng chư tôn đức lãnh đạo cuộc vận động, chịu nhiều gian lao thử thách. Sau Pháp nạn 1963, Ngài đảm nhiệm nhiều trọng trách trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, lần lượt giữ các chức vụ Tổng vụ trưởng Hoằng pháp, Tổng vụ trưởng Tài chánh, Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học – tiền thân của Viện Đại học Vạn Hạnh.

Sau năm 1975, với tâm nguyện thống nhất Phật giáo cả nước, Hòa thượng đã dốc sức vận động để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Năm 1981, tại Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam, Ngài được suy tôn làm Đệ nhất Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.


Suốt cuộc đời hoằng pháp, Hòa thượng đã dành tâm huyết cho sự nghiệp giáo dục, dịch thuật kinh điển, xây dựng cơ sở Phật giáo, và gắn kết Phật giáo với dân tộc. Những tác phẩm biên dịch và trước tác của Ngài, như Kinh Phổ Môn, Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, Tâm Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa… vẫn là những tài liệu quý giá cho hậu thế.
Trưởng lão Hòa thượng viên tịch vào lúc 21 giờ 30 ngày 2-4-1984 (nhằm ngày 2-3 năm Giáp Tý), trụ thế 76 năm, 56 năm hạ lạp.


Tại buổi Lễ tưởng niệm, chư tôn giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội thành kính dâng hương, cúng dường trà và phạm thực, đảnh lễ Giác linh tri ân công đức to lớn của Đức Đệ nhất Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN. Đồng thời phát nguyện tiếp nối chí nguyện phụng sự của bậc tiền nhân, tiếp tục dốc lòng phụng sự vì lợi ích dân tộc và đạo pháp, đoàn kết xây dựng GHPGVN ngày càng phát triển vững mạnh, trang nghiêm.

Trước đó, chiều 28-3, Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Nhơn cùng chư tôn giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội đã đến chùa Quảng Hương Già Lam để dâng hương tưởng niệm và cúng lễ tiên thường Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ.






